Hổ trợ trực tuyến
0909 134 692
(HINO-ISUZU)
Quảng cáo
Thống kê truy cập
Online: 33
Lượt truy cập: 394043
 Tìm kiếm:   Giá từ:   ~  Đến:  
Vì sao nói Đạo Phật là Đạo diệt khổ? Phần 2

 

(tiếp theo)

 

Phật tử chúng ta thường hiểu lầm. Do chúng ta có gây tạo nhân tham lam, nóng giận nên bị người ta trả lại những nỗi đau khổ. Lúc đó mình cứ trách ta khổ là do người khác làm ra, mà không nghĩ vì nhân tham lam, nóng giận của mình mà chuốc khổ về sau. Như vậy tu là phải diệt nhân tham lam, diệt nhân nóng giận thì khổ mới không còn. Ba thứ tham lam, nóng giận, si mê không còn thì hết khổ ngay. Sở dĩ chúng ta còn khổ là vì 3 thứ đó còn .

 

Như vậy muốn hết khổ phải diệt Tập nhân gâyra đau khổ. Diệt hết Tập nhân đau khổ thì được an lạc. Nhưng diệt không có nghĩa là nói suông mà phải có phương pháp. Phương pháp đó gọi là Ðạo đế. Tôi thường hay nói: "Ðạo Phật là thực tế là cụ thể, chứ không phải huyền bí xa xôi, nhưng Phật tử chúng ta bây giờ biến đạo Phật trở thành huyền bí hết". Tại sao?

 

Như vậy quý Phật tử biết mình còn nóng giận còn tham lam là còn đau khổ. Như vậy đau khổ là bệnh. Bệnh đó phát nguồn từ sự nóng giận, tham lam. Như từ vi trùng sinh ra các bệnh khổ, biết được vi trùng gây bệnh rồi thì phải kiếm thuốc trị vi trùng. Thuốc trị vi trùng là Ðạo đế. Tiêu diệt được vi trùng làm cho mình khổ thì quả khổ mới hết. Ví dụ người bị bệnh rét, bác sĩ xem thấy bệnh này thuộc về vi trùng nào, tìm được vi trùng sinh ra bệnh rét này rồi mới cho toa thuốc. Bệnh nhân theo toa thuốc ấy, mua thuốc về uống thì vi trùng sẽ chết, bệnh được hết, nhưng có người tới bác sĩ chẩn mạch, lại không chịu xem bệnh, không chịu xin toa thuốc, mà cứ chắp tay thưa bác sĩ: "Cho tôi lành bệnh!", lúc đó bác sĩ nói sao? Chắc bác sĩ cũng chắp tay vái lại: "Tôi xin bái".

 

Ðức Phật từng nói Ngài là vua thầy thuốc, chúng sanh có bao nhiêu thứ bệnh thì Phật có bao nhiêu thứ thuốc. Chúng sanh có tám muôn bốn ngàn phiền não thì Ðức Phật có tám muôn bốn ngàn pháp môn để trị. Thuốc nào trị bệnh đó, bây giờ chúng ta tới Phật, không xin thuốc mà cứ chắp tay xin Phật cho con khỏe, cho con vui, cho con hạnh phúc v.v... thì Phật phải làm sao đây? Chắc Phật cũng lắc đầu thôi. Phật chỉ có khả năng biết bệnh, cho thuốc, còn phần lấy thuốc về uống là của chúng ta. Ðó là cái hạng người thứ nhất .

 

Hạng người thứ hai chịu chẩn bệnh, lấy toa, nhưng đem toa về đọc hoài đọc tới đọc lui đến thuộc lòng mà bệnh vẫn không hết. Kẻ này tới kiện thầy thuốc: "Sao tôi đọc toa hoài mà không hết bệnh!" Bác sĩ sẽ nói sao? "Tôi cũng bó tay luôn". Quý Phật tử thấy mình có giống như vậy không? Phật dạy kinh để chúng ta biết phương pháp tu. Bây giờ mình không chịu tu, mà cứ đọc kinh cho Phật nghe hoài. Ðọc một thời gian rồi nói, sao tu mấy năm mà không hết phiền não! Kinh thuộc lòng mà phiền não không hết. Ðó là tại sao? Tại vì chúng ta giống hệt người được toa thuốc mừng quá. Có toa thuốc hay cứ đem khoe người này người kia: "Tôi có toa thuốc hay", rồi đọc thuộc lòng, như vậy hết bệnh sao được?

 

Trên đường tu chúng ta phải thực tu, chứ không phải chỉ tu mà bằng hình thức bên ngoài. Như kinh Bát nhã, đa số quý vị thuộc lòng, câu đầu là: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Nghĩa là Bồ tát Quán Tự Tại khi hành sâu trí tuệ Bát nhã, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết tất cả khổ nạn. Quý vị đọc từ trước đến giờ được mấy trăm lần rồi, mà có qua hết khổ nạn chưa? Như vậy là đọc toa thuốc, chứ không phải uống thuốc. Cho nên Phật nói lời vàng ngọc, lời đúng sự thật, mà mình chỉ biết đọc lời đó, chứ không chịu ứng dụng tu nên không có hiệu quả. Rồi đổ thừa tu Phật không có kết quả. Lỗi ấy tại ai?

 

Trong kinh Ðức Phật dạy về trí tuệ Bát nhã có chia làm ba phần:Văn tự Bát nhã, Quán chiếu Bát nhã và Thật tướng Bát nhã. Ngài Thái Hư ở Trung Hoa ví Văn tự Bát nhã như con thuyền, Quán chiếu Bát nhã như chèo, dầm hay mái đuôi tôm. Ðó, Thật tướng Bát nhã bờ bên kia. Người muốn qua sông, đến bên đò, có đò đậu sẵn, thuyền đậu sẵn. Nhưng kẻ ấy bước xuống thuyền cứ ngồi đó hoài, không chịu chèo bơi, không chịu quay máy, thì chừng nào qua tới bờ bên kia? Chắc tới thuyền mục rồi chìm luôn, chứ qua bờ không được.

 

Chúng ta học Văn tự Bát nhã là học lời kinh Phật dạy. Kế đến mình phải soi, phải xem xét tức là Quán chiếu. Quán chiếu là soi sáng lại nơi thân tâm mình do ngũ uẩn gồm:sắc uẩn là đất, nước, gió, lửa tụ họp lại thành thân; rồi thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn đó là tâm. Thân tâm này là tướng duyên hợp. Xem cho thấu đáo chỉ thấy nó là một giả tướng tạm bợ, chứ không có thật. Thấy rõ ràng như vậy, nhất định khổ ách nào cũng qua hết.

 

Thân đã không thật thì ai chửi có thật đâu mà nói tai nạn. Mình đã không thật thì bệnh hoạn cũng không thật. Do thấy tất cả đều không thật nên khổ nạn nào cũng qua hết, không còn bị các thứ trở ngại. Từ không bị trở ngại, chúng ta mới đến được bờ bên kia. Ðó là Thật tướng Bát nhã là chỗ giải thoát an toàn. Như vậy người tu phải đủ ba chặng:Văn tự, Quán chiếu, rồi mới tới Thật tướng.

 

Bây giờ chúng ta mới chỉ có Văn tự thôi, mà đã hài lòng với chỗ Văn tự đó rồi. Thuộc lòng bao nhiêu kinh, cứ đem ra đọc lại cho Phật nghe. Giống hệt như đứa bé đi học, thuộc bài rồi trả cho thầy cho cô, xong là xếp sách lại. Như vậy làm sao chúng ta hết khổ, làm sao chúng ta qua được bờ bên kia?

 

Ðó là chỗ chân thật mà lâu nay chúng ta quên, cứ hiểu mơ màng rồi ngỡ đọc nhiều kinh là tu giỏi. Cho nên có Phật tử đi chùa năm mười năm, mà hỏi đã hết phiền não chưa, thì chỉ bớt chừng hai chục phần trăm, còn tám chục phần trăm vẫn như cũ. Mấy cô ở chùa cũng vậy, tu mười năm, hai mươi năm, nếu hỏi hết phiền não chưa, cũng không dám nói hết.

 

Như vậy tại sao chúng ta tu mà không hết phiền não? Là vì không thực tình ứng dụng đúng lời Phật dạy. Bởi không ứng dụng đúng nên phiền não không sạch. Phiền não không sạch tức tội lỗi không hết. Vì vậy tu mà vẫn khổ hoài. Người đời thường nghĩ quý thầy, quý cô vô chùa thì lúc nào cũng cười, lúc nào cũng tươi vui. Nhưng có khi bất thần gặp một hai cô ngồi khóc. Ðó là tại sao? Tại vì còn phiền não, nên chạm tới liền buồn, buồn mới khóc. Tu mà không hết khổ là vì tu chưa đúng, chưa đến nơi.

 

Qua pháp Tứ Ðế, chúng ta thấy rõ Phật nhắm vào nhân đau khổ, tiêu diệt nó, chứ không nói tiêu diệt quả đau khổ. Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn có bài kệ, nguyên văn chữ Hán:

 

Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc .

 

Nói các hành vô thường. Các hành là thân hành động, tâm ý hành động, và tất cả sự sanh diệt của muôn vật đều gọi là hành. Các thứ đó đều vô thường, đều sanh diệt cho nên nói chư hành vô thường. Quý vị thấy như lúc chúng ta còn trẻ thì đầu xanh, rồi lật bật một thời gian nhìn lên đầu thấy vài sợi tóc bạc. Lật bật một lúc nữa, thì thấy hết phân nửa tóc bạc, chẳng bao lâu sau nhìn lên đầu như là thúng bông. Ðó, vô thường chuyển biến dần dần và không bao giờ dừng lại.

 

Thân như vậy, tâm cũng như vậy, một dòng chuyển biến không ngừng. Muôn sự muôn vật ở trước cũng vậy. Như ngày nay chúng ta xây được căn nhà bê tông, thấy chắc biết mấy. Nhưng năm mươi năm sau nó cũng phải hư. Có cái gì không đổi dời, không biến chuyển đâu. Biết rõ như vậy thì sự vật là thật hay không thật. Nếu thật thì nó phải nguyên vẹn, không đổi thay; còn nó đổi thay thì hết thật rồi. Cho nên, các hành là vô thường, là pháp sinh diệt.

 

Như vậy, muôn sự, muôn vật ở trên thế gian là vô thường, là sanh diệt. Nếu là vô thường, là sanh diệt tức là đau khổ, phải không? Già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Thì chính vì vô thường đó mà đi tới bại hoại. Bại hoại là đau khổ. Cho nên voâ thường là nhân đưa đến quả đau khổ. Vì nó là pháp sinh diệt cho nên chúng ta không còn mãi mãi như vậy được.

 

Sanh diệt diệt dĩ, là sinh diệt mà diệt rồi thì tịch diệt vi lạc, tức lặng lẽ là vui. Lặng lẽ đó là Niết bàn. Khi cái vô thường sanh tử lặng, thì Niết bàn an lạc, tức cái vô sanh mới là an lạc chân thật. Như vậy Phật dạy chúng ta tu từ pháp sinh diệt chuyển lần đến vô sanh. Sanh diệt là đau khổ, vô sanh là an vui. Thế thì tu Phật là tìm vui hay tìm khổ? Mà muốn tìm vui thì trước phải biết khổ. Biết khổ mới tìm vui. Chứ còn ở trong khổ mà không biết khổ; trong khổ mà nghĩ là vui thì đâu chịu bỏ khổ.

 

Cho nên đức Phật nói khổ để chúng ta nhận thức chín chắn cuộc đời là đau khổ, chúng ta mới cố gắng tiêu diệt nhân đau khổ. Diệt hết nhân đau khổ thì mới thật là vui. Như vậy có thể kết luận đạo Phật bi quan không? Nếu từ khổ đi tới hết khổ, thì đạo Phật là đạo diệt khổ, đưa chúng ta tới chỗ an vui. Vậy mà nhiều người mới nghe đạo Phật nói Khổ đế - cuộc đời là đau khổ - liền nói đạo Phật bi quan! Mà không ngờ nói khổ là chỉ cho chúng ta nhận thức như vậy để phăng tìm và tiêu diệt nguyên nhân của nó thì đau khổ hết . Ðau khổ hết thì được an vui vĩnh viễn , gọi là vui Niết bàn .

 

Chúng ta là những hành giả đang cố gắng , đang vươn lên tới mục đích an vui giải thoát . Cũng như người leo núi , từ dưới chân núi muốn leo tới chóp núi , thì lúc đầu là đau khổ hay vui? Là nhọc nhằn , là khổ . Nhưng khi lên đến chóp núi rồi , ngồi yên lặng hóng gió mát liền nghe khỏe thảnh thơi . Như vậy là đang leo núi là khổ , nhưng đến chóp núi là vui . Cho nên trên đường tu , chúng ta chịu khó , chịu cực làm cho mòn , làm cho tan vỡ các nhân đau khổ , khi hết nhân đó chúng ta sẽ được an vui . Công phu đó gọi là tu hành .

 

Nhiều người nghe nói tu hành liền nghĩ méo mó là tu thì phải bị hành . Nên họ bảo vô chùa tu phải thức khuya , dậy sớm , tụng kinh ngồi thiền , phải ăn muối ớt , muối tiêu , hoặc chịu đói chịu khát vậy mới là tu , vì tu là hành mà . Chữ tu hành nghĩa là tu phải thực hành lời Phật dạy , chứ không phải tu hành là hành phạt .

 

Ðể kết thúc bài này tôi dẫn lời Thiền sư Mãn Giác đời Lý , nhắc nhở cho qúy vị thấy kinh Phật và lời Tổ không hai , không khác . Lúc Ngài gần tịch , Ngài làm một bài thơ:

 

Xuân khứ bách hoa lạc 
Xuân đáo bách hoa khai 
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai 
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận 
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai

 

Như vậy bài kệ trên có giống bài kệ này không? Một bên là chư hành vô thương, một bên nói Xuân khứ bách hoa lạc, xuân đáo bách hoa khai. Xuân khứ tức là mùa xuân đi rồi thì trăm hoa rụng. Mùa xuân đến thì trăm hoa nở. Như vậy hoa rụng, hoa nở, theo dòng thời gian xuân, hạ, thu, đông. Thời gian chuyển biến thì sự vật theo đó cũng chuyển biến. Thời gian là vô thường, sự vật cũng vô thường. Như vậy muôn vật trong cõi đời này đều chuyển biến như một dòng nước. Nó cứ trôi đi không dừng.

 

Hai câu kế Sự trục nhãn tiền quá, lão tùng đầu thượng lai. Cây cỏ hoa lá theo thời tiết đổi thay, phai tàn sinh trưởng., thì con ngươi theo thời tiết cũng như vậy. Mới ngày nào tóc xanh, bây giờ ngó lại trên đầu tóc đã bạc rồi. Như vậy không có gì dừng lại được. Bốn câu thơ này nói lên dòng đời là một dòng sinh diệt đổi thay. Con người cũng theo đó mà thay đổi không dừng. Nhưng hai câu kết rất lý thú:

 

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

Chớ bảo mùa xuân qua rồi thì hoa rụng hết, bởi vì đêm hôm ở trước sân, còn một cành mai nở trắng xóa. Hoa theo thời mà rụng, tức mùa xuân thì hoa nở, hết xuân thì hoa rụng. Ðến mùa đông là mùa tàn tạ nhất. Tuy tàn tạ không còn hoa, nhưng sự thật, đừng hiểu lầm rằng không còn một hoa nào nở, vì có một cành mai nở trắng xoá trước chùa. Cành mai đó để nói lên điều gì? Ðể nói rằng nơi mình còn có cái chân thật. Cái chân thật đó không bị thời gian cuốn đi. Cái chân thật đó không bị vô thường sinh diệt bào mòn, nó vẫn nguyên vẹn ở nơi mình như cành mai nở vào mùa đông.

 

Chúng ta mới thấy cái nhìn của các Thiền sư đúng như cái nhìn của chư Phật. Phật nói sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Tới chỗ lặng lẽ chân thật, cái đó không mất, cái đó mới là thật. Ở đây cũng vậy, bản thân con người, bản thân sự vật bị thời gian lôi kéo, vô thường sinh diệt; nhưng trong đó có một cái chưa bị thời gian chi phối, chưa bị tất cả pháp làm cho sinh diệt. Nó còn vẹn toàn giống như một cành mai mùa đông. Vì thế chúng ta mới tu, chứ nếu sinh diệt hết thì còn gì để tu.

 

Trong cái sinh diệt có cái chưa từng sinh diệt. Nhà thiền thường hay ví dụ hình ảnh hoa sen trong lửa. Trong lò lửa cháy hừng hực, mà hoa sen trong vẫn tươi thắm, đó là sao? Lò lửa chỉ cho thân này vô thường, cảnh đời vô thường, đổi thay giống như lò lửa đang thiêu đốr. Tuy nhiên trong đó có một cành hoa sen tươi thắm, không bị thứ gì làm cho nó khô héo hết. Ðây là chỉ cho cái thật mình, nó sẵn có, vượt qua tất cả vô thường, tất cả sinh diệt. Do đó chúng ta mới có khả năng thắng hết, qua hết các vô thường để trở về cái chân thường chân lạc. Ðó là mục đích chính của người tu chúng ta vậy.

 

(Tuần báo Giác Ngộ số 37-40/2000)

 

Nguồn budsas.org

Bí Mật Của Những Mẹ Bầu Đẻ Con Thông Minh
Bí Mật Của Những Mẹ Bầu Đẻ Con Thông Minh
Giá:  0 VNĐ
Làm thế nào để dạy trẻ phát triển kỹ năng tư duy logic
Làm thế nào để dạy trẻ phát triển kỹ năng tư duy logic
Giá:  0 VNĐ
Âm nhạc có thực sự tốt cho thai nhi?
Âm nhạc có thực sự tốt cho thai nhi?
Giá:  0 VNĐ
5 nỗi sợ hãi lớn nhất của tinh trùng
5 nỗi sợ hãi lớn nhất của tinh trùng
Giá:  0 VNĐ
4 điều đại kỵ khi chuyển nhà nhập trạch
4 điều đại kỵ khi chuyển nhà nhập trạch
Giá:  0 VNĐ
Phải thương vợ vì sao?
Phải thương vợ vì sao?
Giá:  0 VNĐ
Lời Phật dạy về tình yêu đôi lứa
Lời Phật dạy về tình yêu đôi lứa
Giá:  0 VNĐ
Vì sao nói Đạo Phật là Đạo diệt khổ? Phần 1
Vì sao nói Đạo Phật là Đạo diệt khổ? Phần 1
Giá:  0 VNĐ
Ước mơ...!
Ước mơ...!
Giá:  0 VNĐ
CÁCH TRỊ BỆNH MÁU NHIỄM MỠ.
CÁCH TRỊ BỆNH MÁU NHIỄM MỠ.
Giá:  0 VNĐ
Hổ trợ trực tuyến
0931 92 09 92
(XE TẢI FUSO)
Quảng Cáo
Face book